Trong thời kỳ đen tối nhất của Phật giáo nước nhà, khi chính quyền Diệm – Nhu thẳng tay đàn áp Phật giáo, để phản đối chế độ gia đình trị Diệm – Nhu, ngày 30/5/1963, hòa thượng Thích Quảng Đức đã tham gia cuộc biểu tình tại công trường Lam Sơn, sau đó về chùa Xá Lợi dự cuộc tuyệt thực cùng tăng chúng. Hôm sau, ông trình lên Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo một bức tâm thư xin tình nguyện tự thiêu. Tuy nhiên, tâm nguyện của ông không được chấp thuận.
Cuộc đấu tranh không thu được kết quả gì, trong khi Phật giáo tại Huế lại đang bị đàn áp nặng nề, nên tối ngày 10/6, hòa thượng Thích Quảng Đức liền phát tâm nguyện sẽ tự thiêu vào ngày hôm sau để cúng dường Tam Bảo. Cũng tối hôm đó, ông để lại mấy điều dặn dò như sau:
“ Một là, sau khi thân tôi thiêu thành tro bụi, sẽ còn lưu lại một vật gì đó cho đời, thì đó là kết quả tốt đẹp về lời Phát nguyện của tôi hiến dâng thân này cho Đạo Pháp và đó cũng là thành quả cuộc đời tu hành của tôi.
Hai là, khi tôi thiêu, nếu tôi chết trong tư thế nằm ngửa thì nguyện vọng Phật giáo sẽ thành công, các thầy cứ tiếp tục tranh đấu. Ngược lại, nếu tôi chết nằm sấp thì quý thầy nên tìm cách đi ra các nước Miên, Lào, Thái… để tu, nguyện vọng tranh đấu của Phật giáo sẽ không thành.
Ba là, ngày di quan tài của tôi, nếu các thầy có cảm thấy triệu chứng gì lạ lạ, có thể là ngủ mộng thấy, có thể là cảm giác hay triệu chứng gì thì nên đình chỉ ngay, dời việc di quan qua ngày khác”.

Hình ảnh tự thiêu của hòa thượng Thích Quảng Đức
Ngày 11/6/1963, sau khi đã tự tẩm xăng ướt mấy lớp áo cà sa, hòa thượng Thích Quảng Đức còn xách thêm một can xăng nữa đến ngã tư Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt (nay là Nguyễn Đình Chiểu và Cách Mạng Tháng Tám), ngồi kiết già trước sự vây quanh của hàng ngàn tăng ni phật tử. Ngài tự tay dùng can xăng đổ kín người, rồi châm lửa đốt. Ngọn lửa bốc cao phủ kín thân mình. Ngài vẫn an nhiên chấp tay tĩnh tọa, gương mặt không lộ vẻ đau đớn, chịu đựng. 15 phút sau, lửa tàn, ngài đã ngã xuống, trên tay vẫn còn quyết ấn cam lồ.
Cuộc tự thiêu đã diễn ra trong không khí hùng tráng, làm rung động cả thế giới. Hàng triệu con tim nức nở. Bao nhiêu nước mắt khóc thương, giận dữ đã rơi. Nhục thân của hòa thượng Thích Quảng Đức được đưa về quàn tại chùa Xá Lợi, để trước giảng đường để tăng ni phật tử tới viếng, tụng kinh cầu siêu trong không khí trang nghiêm, xúc động. 5 ngày sau, nhục thân ngài được đưa đi hỏa thiêu ở An Dưỡng Địa Phú Lâm.
Các tăng ni niệm Phật trước ngọn lửa cháy rừng rực và khói bốc cao ngùn ngụt. Một số vị tăng ni được cử đi mở lò thiêu để hốt tro cốt còn lại. Đám tăng ni đã thấy một vật to bằng nắm tay nằm lẫn lộn giữa đống xương tro. Mọi người đều tận mắt thấy những mẩu xương nhỏ cháy thành tro vụn, màu trắng, xương lớn cũng tan vụn thành những mảnh nhỏ, chạm khẽ vào là rã thành tro, nhưng riêng vật hình trái tim thì chỉ bị cháy một ít chung quanh, về cơ bản vẫn còn nguyên vẹn. Mọi người đều bàng hoàng và đưa tro cốt cùng trái tim của hòa thượng trình lên Ủy ban Đấu tranh Bảo vệ Phật giáo.
Sau khi bàn bạc, nhiều người phán đoán rằng, trái tim là cơ nhục nên khó cháy, do đó thống nhất thiêu tiếp 6 giờ nữa xem tình hình ra sao. Tuy nhiên, không chỉ thiêu 6 giờ, mà lần này thiêu tới 10 giờ bằng lò điện, nóng tới 4.000 độ C, khiến nứt cả lò thiêu, song trái tim vẫn không hề biến dạng. Lúc này, mọi người mới giật mình nhớ đến 3 điều nhắn nhủ cuối cùng của hòa thượng Thích Quảng Đức và đem ra so sánh thì thấy linh nghiệm cả.
Thứ nhất, thân thể ông thiêu thành tro, mà quả tim vẫn còn đỏ hồng dưới sức nóng 4.000 độ C. Thứ hai, khi ngọn lửa thiêu thân vừa tắt, sau 3 lần cúi xấp, nhục thân của hòa thượng bật ngửa ra sau. Tư thế viên tịch đúng như Ngài dự đoán khiến tăng ni tín đồ tin tưởng vào sự thành công của chính nghĩa với chế độ gia đình trị Diệm – Nhu nên càng đấu tranh quyết liệt hơn… Thứ ba, ông còn báo mộng cho tăng ni, phật tử biết những địa điểm mà chính quyền Ngô Đình Diệm chôn mìn, để di chuyển áo quan ra lò hỏa thiêu theo đường khác.
Những người trong Ủy ban này liền gọi thợ chụp hình đến chụp trái tim, in ra phân phát đi khắp nơi gây chấn động cả nước và thế giới. “Trái tim bất diệt” của hòa thượng Thích Quảng Đức được trưng bày tại chùa Xá Lợi để mọi tăng ni có thể chiêm ngưỡng. Ai cũng nghĩ đó là phép lạ. “Trái tim bất diệt” khiến phong trào đấu tranh ngày càng thêm mạnh mẽ, nên Chính quyền Ngô Đình Diệm tìm cách phá hoại trái tim của ngài.
Sau khi vây ráp chùa, bắt bớ các tăng ni, phật tử, Diệm đã sai bác sĩ Trần Quang Tuyến tìm cách hủy trái tim này trước sự chứng kiến của nhiều người để dập tắt niềm tin của tăng ni phật tử cả nước. Bác sĩ Tuyến đã dùng axit đổ vào trái tim của hòa thượng Thích Quảng Đức, tuy nhiên, đổ vào bao nhiêu axit cứ trôi đi bấy nhiêu, không thẩm thấu vào được. Tay bác sĩ này còn bê nguyên cả trái tim thả vào bình axit, song từ trái tim vẫn không sủi ra chút bọt lăn tăn nào. Sợ quá, gã này chắp tay quỳ lạy 3 lần, không dám làm gì nữa.

Trái tim nung 4.000 độ C không cháy
Không tin chuyện trái tim đốt không cháy, Diệm đã mời các nhà khoa học Mỹ đến tìm cách phá hủy trái tim này. Người Mỹ đã dùng hồ quang điện (lửa hàn), thứ nóng nhất mà họ có, để đốt trái tim. Tuy nhiên, ngọn lửa nhiều ngàn độ C xanh lét, làm tan chảy cả sắt cũng không đốt cháy được trái tim lạ kia. Những nhà khoa học Mỹ lúc đó mới tin vào sức mạnh bất diệt của Phật giáo. Đốt không được, phá hủy không xong, bà Nhu (vợ Diệm) tìm cách đánh cắp trái tim, song không thành công.
Theo vị sư thầy hiện ẩn cư ở chùa Quán Thế Âm thì trong hoàn cảnh đó, Giáo hội đã gửi trái tim của hòa thượng Thích Quảng Đức vào ngân hàng Thụy Sĩ. Sau ngày giải phóng, trái tim được chuyển về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, rồi được cất giữ ở nhiều nơi bí mật khác nhau. Cho đến nay, đã trải qua 45 năm, người dân cả nước luôn bị ám ảnh với câu hỏi vì sao một trái tim bằng thịt lại không thể cháy ở độ nóng hàng ngàn độ C?
Đây là câu hỏi không chỉ ám ảnh những người bình thường mà còn ám ảnh cả những nhà khoa học, các nhà thần học cũng như những nhà nghiên cứu những điều kì diệu của thế giới vô hình. Các nhà khoa học trong và ngoài nước đều đã có các cuộc nghiên cứu rải rác suốt mấy chục năm qua, song vẫn chưa đưa ra kết luận hay lời giải thích nào. Những nhà khoa học Nga sau khi giám định đã nói rằng: “Trái tim của Ngài giống như viên ngọc. Những thứ lửa, điện đốt không cháy thì đúng là ngọc rồi”.
Theo vị sư thầy hiện ẩn cư ở chùa Quán Thế Âm, “trái tim kim cương bất hoại” của hòa thượng Thích Quảng Đức chỉ có thể lí giải bằng những thuyết giáo sâu xa của nhà Phật mà thôi. Theo ông, trái đất nằm trên đầu ngọn tóc, bởi mọi chất tạo thành trái đất này đều có trong một sợi tóc. Điều này Phật giáo đã biết từ lâu, nhưng khoa học mới khẳng định lại trong thời gian gần đây. Do vậy, con người cũng hội tụ đầy đủ những thứ mà trái đất này có.
Trái đất tạo được kim cương, thì con người cũng có thể tạo được kim cương bất hoại, vấn đề là phải chịu khó tu tập. Theo thuyết giáo nhà Phật thì con người là do khí dương và khí âm của trời đất tạo thành. Khí tụ thành tinh, tinh tụ thành thần gọi là thần thức. Đó chính là thứ tinh túy của con người. Nhưng con người thường lãng phí những thứ đó ra trời đất từng ngày qua hỉ, nộ, ái, ố, tham, sân, si…
Hòa thượng Thích Quảng Đức xuất gia từ nhỏ, lại từ bi hỉ xả, không lấy vợ, lập gia đình nên không bị lãng phí khí dương. Suốt mấy chục năm, kể cả những lúc tu tập ở chùa Quán Thế Âm, lúc đấu tranh vì Phật giáo, ông cũng vẫn chịu khó rèn luyện hấp thụ khí dương của trời đất. Hòa thượng Thích Quảng Đức thường ngồi thiền vào những thời khắc như 6h sáng (dương trong âm), 12h trưa (toàn dương), 6h chiều (âm trong dương) và 12h đêm (toàn âm).
Theo lời hòa thượng, ngồi thiền vào những thời khắc đó sẽ hấp thụ được khí trong lành và dồi dào nhất của trời đất. Với sự tu luyện chăm chỉ và một trái tim cực kỳ trong sáng, nhân hậu, nên khí dương trong thân thể hòa thượng rất dồi dào. Khi tự thiêu, sức nóng khí dương trong cơ thể, sức nóng vũ trụ và sức nóng ngọn lửa thiêu đã tụ lại tạo thành xá lợi ( còn gọi là xá lị ). Nói theo cách khác thì trong lúc ngồi tự thiêu, hòa thượng đã dùng lửa tam muội (dương khí – nội hỏa) đốt đi trái tim của mình, khiến trái tim đã hóa thạch. Lửa thường không thể đốt nổi lửa tam muội, nên trái tim của hòa thượng đã trở thành “kim cương bất hoại”.
(Theo Tuổi Trẻ Thủ Đô – đã lược bớt )
* Thông tin thêm về cuộc đời bôn ba của thiền sư Thích Quảng Đức
Hòa thượng Thích Quảng Đức, tên bố mẹ đặt là Lâm Văn Tức, sinh năm 1897, quê ở làng Hội Khánh (Vạn Ninh, Khánh Hòa). Ông sinh ra trong gia đình có 7 anh chị em, thân phụ của ông là cụ Lâm Hữu Ứng và mẫu thân là Nguyễn Thị Nương. Ngoài hai cái tên trên, ông có pháp danh là Thị Thủy, pháp tự là Hành Pháp.
Năm lên 7 tuổi, ông đã xuất gia đi học với hòa thượng Thích Hoằng Thâm, là cậu ruột và cũng là sư phụ. Thấy ông chăm chỉ học hành, tu tập, hòa thượng Thích Hoằng Thâm quý mến nhận là con chính thức rồi đổi tên là Nguyễn Văn Khiết. Năm 15 tuổi, hòa thượng thọ giới Sa Di và năm 20 tuổi thì thọ giới Tỳ Kheo. Sau khi thọ giới, ông vào một ngọn núi ở Ninh Hòa phát nguyện tịnh tu 3 năm liền, chấm dứt mọi liên lạc với thế giới bên ngoài. Sau này, khi chu du hoằng dương đạo pháp khắp ngả, ngài đã có một thời gian quay lại đây để xây dựng một ngôi chùa lấy hiệu là Thiên Lộc.
Sau khi tu tập 3 năm, ông rời núi với chiếc bát khất thực đó đây để gieo duyên lành với chúng sinh. Khất thực 2 năm, ông lại nhập thất tại chùa Sắc Tứ Thiên gần Nha Trang. Năm 1934, ông rời Khánh Hòa vào miền Nam để tiếp tục sứ mạng bảo vệ và phát triển Phật Pháp, sau khi đã xây dựng và kiến tạo tổng cộng 14 ngôi chùa tại các tỉnh miền Trung. Ông còn sang cả Campuchia để học hỏi và nghiên cứu kinh điển theo truyền thống Theravada.
Cũng như ở miền Trung, 20 năm bôn ba hành đạo ở khắp các tỉnh miền Nam, ngài đã khai sơn và trùng tu thêm 17 ngôi chùa. Như vậy, tổng cộng ngài đã có công xây dựng hoặc trùng tu tất cả 31 ngôi chùa. Ngôi chùa cuối cùng, và cũng là nơi ngài trụ trì lâu nhất là chùa Quán Thế Âm, số 68 Nguyễn Huệ, quận Phú Nhuận, Gia Định (nay con đường này đã đổi thành chính tên của ngài là Thích Quảng Đức).
qua that ong troi co mat